Có một chữ tôi đã đọc từ hơn ba mươi năm trước, nhưng thú thật, lúc ấy nó chưa thực sự vào đầu. Unlearn.

Đầu những năm 1990 tôi mới ngoài hai mươi, thuộc thế hệ những “học sinh dưới mái trường XHCN”, lớn lên trong một hệ thống giáo dục đã cung cấp cho mình khá đầy đủ cách giải thích thế giới, lịch sử đi về đâu, cái gì tiến bộ, cái gì lạc hậu, thậm chí phần nào cả chuyện thế nào là một con người đúng đắn,ôi một đại tự sự (grand narrative).
Rồi Đông Âu biến động, Liên Xô tan rã. Với một thanh niên lúc đó, ít nhất với tôi, theo dõi tin tức này với chút hoang mang. Một cái gì đó trong đầu bắt đầu lung lay. Không nhất thiết vì những gì từng học đều sai, sau này tôi càng không nghĩ đơn giản như vậy, mà bởi lần đầu tiên tôi phải tự hỏi: tại sao mình tin điều này? Vì mình đã kiểm nghiệm nó, hay vì mình đã được dạy rằng nó đúng? Nghĩ lại, có lẽ đó là một trong những lần đầu tiên tôi thực hành unlearn mà chưa biết gọi tên việc mình đang làm.
Thời ấy tôi mê Alvin Toffler và hay trích dẫn các ý tưởng từ cuốn sách này. Cú sốc tương lai, Làn sóng thứ ba, rồi Thăng trầm quyền lực, những cuốn sách làm cho một thanh niên trong những năm chuyển động ấy có cảm giác thế giới rộng ra rất nhanh. Tôi thích cách Toffler nhìn vào công nghệ, thông tin, quyền lực, gia đình, giáo dục rồi bảo rằng những cấu trúc tưởng rất bền vững thực ra có thể thay đổi. Có một câu sau này được trích đi trích lại khắp nơi và gán cho ông:
“The illiterate of the 21st century will not be those who cannot read and write, but those who cannot learn, unlearn, and relearn.”
Tôi cũng từng nghĩ đó là nguyên văn của Toffler. Hóa ra không hẳn. Và có một chút trớ trêu rất hợp với câu chuyện unlearn ở đây: muốn nói về unlearn, trước tiên tôi lại phải unlearn chính một câu danh ngôn về unlearn mà mình từng tin là của Toffler.
Nguyên gốc nằm trong Future Shock, xuất bản năm 1970, ở Chương 18, “Education in the Future Tense”. Câu Toffler thực sự viết là:
“By instructing students how to learn, unlearn and relearn, a powerful new dimension can be added to education.”
Ngay sau đó ông dẫn nhà tâm lý học Herbert Gerjuoy, người nói về một dạng “mù chữ của ngày mai”, không còn chỉ là không biết đọc mà là không biết cách tự học. Qua quá trình trích dẫn về sau, hai ý nằm gần nhau ấy dường như đã được ghép lại thành câu danh ngôn chúng ta quen thuộc. Các ấn bản khác nhau có số trang khác nhau, một bản paperback được đối chiếu dẫn đoạn này ở trang 211, nhưng điều quan trọng hơn là nó thực sự nằm trong Chương 18 của Future Shock. Tất cả cái này do Tiểu Đào chế nhạo tôi khi hay quy câu trên cho Alvin mà không thực sự tìm hiểu cho đến gần đây.
Tôi kể hơi kỹ chuyện này vì nó làm tôi thích chữ unlearn thêm một chút. Kiến thức cũ không phải lúc nào cũng là những điều to tát về chính trị, triết học hay công nghệ. Đôi khi chỉ là một câu mình đã trích vài chục năm, thấy quá quen nên chẳng còn nghĩ đến chuyện kiểm tra nó nữa.
Điều buồn cười là hồi hai mươi mấy tuổi, tôi mê Toffler thật nhưng có lẽ tôi mê chữ future nhiều hơn chữ unlearn. Tôi thích tương lai, thích cái cảm giác phía trước còn có những thứ chưa ai biết hết, thích đọc những dự báo rồi tưởng tượng công nghệ sẽ làm xã hội biến đổi ra sao. Learn rất hấp dẫn với một người trẻ, mỗi cuốn sách mới khiến mình có cảm giác biết thêm, lớn thêm, mở được thêm một cánh cửa. Còn unlearn thì khó chịu hơn. Nó không cho mình thêm một cuốn sách vào giá mà đôi khi bắt mình lấy một cuốn đã nằm ở đó rất lâu xuống, mở lại, rồi thừa nhận có những trang phải đọc theo cách khác. Ba mươi năm sau nhìn lại, tôi mới thấy có khi đây mới là vấn đề nền tảng Toffler đã đặt ra.
Sau này tôi còn biết thêm một chi tiết khiến mình suy nghĩ khá lâu. Những ý tưởng của Toffler không chỉ được mấy thanh niên ham đọc sách như chúng tôi tìm đến. Từ đầu những năm 1980 và kéo sang đầu những năm 1990, Toffler cùng các nhà tương lai học đã được giới lãnh đạo và hoạch định chính sách Trung Quốc đọc và tranh luận khá nghiêm túc. Nghiên cứu của Julian Gewirtz trên The Journal of Asian Studies, dựa trên cả các nguồn nội bộ Trung Quốc, cho thấy Triệu Tử Dương và những quan chức cấp cao khác đã sử dụng các ý tưởng về “cuộc cách mạng công nghệ mới” trong việc suy nghĩ lại chính sách phát triển (cái này do Tiểu Đào deep research). Tôi nhớ trước đây mình thường kể chuyện này thành “những năm 90 các Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đọc Toffler”, nhưng kiểm tra lại thì phải sửa chính ký ức của mình một chút: làn sóng quan tâm quan trọng đã bắt đầu sớm hơn, từ đầu những năm 80 và kéo dài sang giai đoạn sau. Chi tiết ấy đối với tôi còn thú vị hơn. Một hệ thống chính trị vẫn đang giữ chặt rất nhiều tiền đề ý thức hệ lại có thể đọc một nhà tương lai học Mỹ, không nhất thiết để tin ông, mà để xem có điều gì trong những gì mình đang tin cần phải suy nghĩ lại. Có lẽ unlearn ở cấp độ một con người đã khó, ở cấp độ một tổ chức hay một đất nước còn khó hơn nhiều.
Từ Toffler, sau này tôi lại bị Ray Kurzweil quyến rũ. Rồi Internet, máy tính cá nhân, chuyển đổi số, AI, hết lớp công nghệ này đến lớp khác. Không biết từ lúc nào tôi bắt đầu tự xem mình là một technology optimist. Nhưng tôi không hiểu technology optimist như một người tin rằng công nghệ rồi sẽ cứu thế giới. Sống đến tuổi này mà còn tin đơn giản như vậy chắc hơi khó. Với tôi nó giống một trạng thái tâm lý hơn. Khi một công nghệ mới xuất hiện, phản xạ đầu tiên của tôi thường không phải “cái này nguy hiểm quá, tránh đi”, mà là “cái này là cái gì nhỉ, nó làm được thật không, cho mình thử xem”. Tôi nghĩ sự lạc quan ấy có một lợi ích khá lớn: nó giữ cho mình còn tò mò. Ở một tuổi mà rất dễ bắt đầu câu chuyện bằng “ngày xưa chúng tôi”, tôi vẫn có thể ngồi trước màn hình, mắt đã mỏi hơn hồi hai mươi rất nhiều, nghịch một công cụ AI mới, hỏi vài câu có khi khá ngớ ngẩn, làm sai rồi làm lại. Có lẽ tò mò chính là điều kiện tâm lý đầu tiên của unlearn. Nếu cái mới chưa kịp xuất hiện mà ta đã đóng cửa, làm sao cái cũ trong đầu có cơ hội bị chất vấn.

Nhưng đến đây tôi lại thấy phải nghi ngờ chính cái technology optimism của mình. Người khác có thể mắc bệnh sợ cái mới, còn những người như tôi có thể mắc bệnh ngược lại, bị tương lai quyến rũ hơi dễ. Nói rằng mình đã đọc Toffler, Kurzweil từ lâu rồi vì thế luôn nhìn đúng tương lai thì nghe rất đẹp, mà cũng hơi giống dựng tượng cho chính mình. Tôi thích thú nhận một câu khác hơn: tôi luôn bị tương lai quyến rũ. Có lúc nhờ thế mà đi sớm hơn một chút. Chắc cũng có lúc vì thế mà tin một công nghệ quá sớm, đánh giá quá cao một dự báo hoặc xem nhẹ những cái giá con người phải trả. Nếu unlearn thực sự là một thái độ trí tuệ thì ngay cả niềm tin rằng “công nghệ thường sẽ đưa chúng ta tiến lên” cũng không được miễn trừ khỏi việc thỉnh thoảng phải đem ra xem xét lại.
Và càng có tuổi, tôi càng nhận ra unlearn đối với những người đã có chút thành tựu hay một bề dày kinh nghiệm là chuyện khó hơn nhiều so với câu khẩu hiệu “learn, unlearn, relearn”. Một người trẻ bỏ một phương pháp cũ có thể chỉ mất một phương pháp. Một người đã làm nghề ba mươi năm, có học trò, có khách hàng, có vài thành công để kể, đôi khi phải bỏ cả một phần bằng chứng rằng mình từng đúng. Những thứ khó unlearn nhất vì thế chưa chắc là những thứ từng làm ta thất bại. Khó bỏ nhất có khi chính là những thứ từng giúp ta thành công. “Tôi làm cách này ba mươi năm rồi.” “Công ty trước giờ vẫn vận hành thế.” “Tôi đã dạy bao nhiêu thế hệ như vậy.” Các câu ấy đều có bằng chứng đứng phía sau. Và chính vì có bằng chứng nên chúng mới có quyền lực đối với mình. AI đang làm nhiều người thuộc thế hệ tôi khó chịu có lẽ không chỉ vì phải học thêm một công cụ mới. Nó đang hỏi một câu tàn nhẫn hơn: trong ba mươi năm kinh nghiệm của anh, phần nào vẫn là trí tuệ, phần nào đã trở thành quán tính?
Hôm qua, ngồi với “Giáo sư quần đùi” Trương Nguyện Thành và được tặng cuốn “Nghĩ khác, làm khác”, càng khâm phục sự unlearn của một vị giáo sư nổi tiếng vẫn còn bỏ đi những thứ có thể là thành tựu quá khứ để học thêm những cái mới: Khí đạo hay Dancesport.
Nhưng tôi cũng không muốn biến unlearn thành một thứ tôn giáo mới, cứ cũ là phải bỏ. Tôi sống ở Sài Gòn đã 46 năm. Bốn mươi sáu năm đủ để một người thay đổi rất nhiều thứ, và tôi chắc chắn đã thay đổi, đã học từ miền Nam rất nhiều, cả cách sống, cách nhìn người, cách làm ăn, sự cởi mở và có lẽ cả một số thứ mà chính tôi không còn nhận ra nữa. Nhưng tôi vẫn nói giọng Bắc. “Tôi nói giọng Bắc nhưng không lừa bà con đâu.” Nghe vui vậy thôi, nhưng nghĩ kỹ thì 46 năm “giữ giọng Bắc” cũng là một cuộc thương lượng dài với chính mình. Có cái từng nghĩ là chất của mình nhưng rồi phải bỏ vì hóa ra chỉ là thói quen, sự câu nệ hay một định kiến nào đó. Có cái bị Sài Gòn làm cho mềm đi. Có cái mình tự nguyện thay đổi. Và cũng có những thứ, như cái giọng chẳng hạn, tôi vẫn muốn giữ. Hồi mới vào Nam, nó chỉ là thứ mình mang theo. Sau 46 năm mà vẫn còn giữ, có lẽ nó đã trở thành một lựa chọn.

Thế nên bây giờ tôi thấy vấn đề của unlearn không còn đơn giản là có dám bỏ cái cũ hay không. Câu khó hơn nhiều là biết cái gì phải bỏ và cái gì phải giữ. Nếu cứ unlearn tất cả vì thế giới thay đổi nhanh, cuối cùng ta có thể trở thành một con người rất dễ cập nhật, nhưng cũng rất dễ bị cập nhật. Hồi trẻ, một hệ tư tưởng có thể nói cho mình biết phải nghĩ thế nào. Bây giờ một thuật toán, một dòng feed, thậm chí một con AI nói chuyện rất có lý cũng có thể làm việc ấy theo cách tinh vi hơn. Nếu không cẩn thận, ta tưởng mình đang unlearn cái cũ để được tự do, nhưng thực ra chỉ đang đổi một hệ thống định dạng mình lấy một hệ thống khác.
Có lẽ vì thế, nhìn lại con đường từ cậu thanh niên ngoài hai mươi trước cú sốc Đông Âu, qua những năm mê Toffler, rồi Kurzweil, đến người đàn ông hôm nay vẫn ngồi nghịch AI, tôi không muốn kể nó thành câu chuyện của một người luôn đi trước thời đại. Đời thật chắc không đẹp như thế. Tôi chỉ thấy mình có một may mắn là vẫn còn tò mò, và có lẽ vẫn còn đủ bất an để đôi khi hỏi lại những điều mình đã tin rất lâu. Ngày trẻ tôi hay hỏi: còn gì mới để học? Bây giờ phải thêm một câu nữa: có cái gì trong mình đã đến lúc phải unlearn? Và càng có tuổi tôi lại thấy cần thêm câu thứ ba, có khi khó nhất: có cái gì, dù tương lai có thay đổi đến đâu, mình nhất định không nên unlearn?
Tôi chưa trả lời được hết.
Riêng cái giọng Bắc thì trước mắt vẫn giữ. Bốn mươi sáu năm rồi, giờ đổi chắc cũng muộn. Với lại còn phải có cái để thỉnh thoảng thanh minh với bà con Sài Gòn. Tôi quý mến Sài Gòn và yêu những con người ở đó

